Sàn giao dịch bất động sản Biển Đông

Sàn giao dịch bất động sản Biển Đông

>

Monday, 8 September 2014

Tâm địa đại Hán - ngàn năm không đổi.

 

Tâm địa đại Hán - ngàn năm không đổi.

Nguyễn Huệ Chi
Trong tình hình hiện nay, khi giới lãnh đạo đảng CSVN đang lập lại các tiểu Thành Đô - khẩn khoản cầu hòa sau những hành động xâm lấn của Bắc Kinh vào chủ quyền Việt Nam, thì việc ôn lại những dữ kiện lịch sử như bài khảo cứu sau đây của Gs. Nguyễn Huệ Chi là điều rất cần thiết. Xin trân trọng giới thiệu một lần nữa đến quí độc giả. BBT

Thủ đoạn tiêu diệt tận gốc văn hóa Việt Nam của Minh Thành Tổ trong cuộc chiến tranh xâm lược 1406-1407

Nguyên đây là một phần trong thiên khảo luận dài có tên “Cuộc kháng chiến trường kỳ chống xâm lược Minh và văn học yêu nước thế kỷ XV cùng những bước nối tiếp về sau” viết năm 1980, in trong công trình Văn học Cổ cận đại Việt Nam – Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật của GS Nguyễn Huệ Chi (NXB Giáo dục, 2013) đã được phê bình, giới thiệu trên nhiều trang mạng và báo chí trong nước thời gian gần đây.

 Diễn Đàn trân trọng cảm ơn GS Nguyễn Huệ Chi đã cho phép trích đăng bài viết đó để giúp bạn đọc nhìn sâu vào một khía cạnh đặc biệt thâm hiểm của Hoàng đế Minh Thành Tổ – kẻ thiết kế toàn bộ kế hoạch đánh chiếm Việt Nam ở đầu thế kỷ XV: âm mưu đồng hóa người Việt bằng một chủ trương rất bài bản và “cao tay”... là lệnh cho quân lính xóa sạch tại chỗ văn hóa tinh thần và vật chất của dân tộc Việt tại những nơi chúng tràn đến như nước lũ. Hầu hết cứ liệu để cập trong bài được rút từ một cuốn sử Trung Quốc – cuốn Việt kiệu thư của sử thần Lý Văn Phượng 文鳳, soạn năm 1540.

Bauxite Việt Nam
--------------------------
 
Vào năm cuối cùng của thế kỷ XIV, lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam diễn ra một bước ngoặt: Hồ Quý Ly lật đổ ngai vàng của nhà Trần mà thành lập một triều đại mới – triều đại nhà Hồ. 32 năm trước đó, năm 1368, lịch sử chế độ phong kiến Trung Hoa cũng đã từng diễn ra một bước ngoặt: nền thống trị của đế quốc Nguyên – Mông bị phong trào nông dân Trung Quốc đánh đổ; Chu Nguyên Chương nhảy lên ngai vàng với bộ lễ phục của một triều đại mới – triều đại đế quốc Minh. Trước sau 30 năm, trên hai đất nước láng giềng, các ông chủ mới đã lần lượt thế chân các ông chủ cũ.

Nhưng tình hình đó tuyệt không làm thay đổi một chút nào mối quan hệ vốn có. Trái lại, nó chỉ càng làm nặng nề thêm những gì trong quá khứ vốn đã quá nặng nề. Những vị Hoàng đế nhà Minh – mới nắm được “ngôi trời” – cảm thấy mình còn dư sức, con mắt thèm khát nhìn ngay xuống mảnh đất giàu có phương Nam với lòng tự tin rằng, mình có thể làm được cái việc “chinh phục” Đại Việt mà những đế chế trước mình đã phải bó tay. Về phía các vua nhà Hồ, cố nhiên họ hiểu rất rõ dã tâm đó của “thiên triều”.

 Ngay khi vừa lên ngôi, họ đã tích cực chuẩn bị lực lượng quân sự để đối phó. Thế rồi, vào ngày 19 tháng 11 năm 1406, chiến cuộc đã nổ ra, gay gắt, chớp nhoáng. Nhà Hồ thất sách về chính trị và sai lầm chiến thuật về quân sự nên chưa đầy một năm sau đành lâm vào thất bại. Vua Minh lập tức cho đổi trở lại tên Đại Việt thành quận Giao Chỉ, quàng vội ách đô hộ lên khắp nước ta.
Nhưng nhân dân Đại Việt vốn đã có truyền thống hàng nghìn năm cảnh giác với kẻ thù phương Bắc, đâu dễ dàng cam chịu ngồi yên. 

Và khi mà Minh Thành Tổ tưởng mọi việc đã xong, ra lệnh cho quân lính sửa soạn rút lui, thì cũng chính là lúc một phong trào kháng chiến cứu nước của nhân dân bắt đầu trỗi dậy. Rồi từ đó, hết phong trào này đến phong trào khác, cuộc chiến đấu vì độc lập của xã tắc đã kéo dài hơn 20 năm cho kỳ đến thắng lợi.
*
 
Điều cần nói ngay là bộ mặt lịch sử của thế kỷ XV đã hiện ra với tất cả vẻ khốc liệt và dữ dội. Không phải bản thân chiến cuộc 1406 với tầm mức gay gắt của nó quyết định sự dữ dội này. Mấy thế kỷ trước, đám chúa trùm phong kiến Tống, Nguyên chẳng cũng đã mở những cuộc tấn công quy mô xuống Đại Việt, và về so sánh lực lượng, lần tấn công nào của họ mà lại không có cái thế tưởng như áp đảo kinh hồn? Nhưng vấn đề đặt ra trong cuộc xâm lăng lần này là nó nhằm thực hiện một mưu đồ còn hiểm sâu hơn cái việc cướp nước, giết dân thông thường, của một tên “Đại Hán” mà sự tàn bạo, xảo quyệt và man rợ trong thời đại của y có thể đứng vào loại nhất nhì thế giới. 

Ở tên Đại Hán đó có sự tích lũy tất cả những kinh nghiệm tàn ác của cha ông y trong quá khứ, kết hợp với những mánh khóe ranh ma mới mẻ nhất mà thời đại mới mang lại cho y. Chính vì vậy, nguy cơ của cuộc xâm lăng lần này đã đặt người dân Đại Việt trước một yêu cầu thức tỉnh toàn diện để có thể đứng vững, hơn thế nữa, để lớn vượt lên. 

Cuộc đấu tranh giành lại chủ quyền và xây dựng đất nước của các thế hệ cha ông ta trong vòng hơn 20 năm (1406 - 1427) rõ ràng là một cuộc vật lộn oanh liệt mà kết quả đã tạo ra một bước đổi thay lịch sử phi thuờng. Nắm cho được bộ mặt lịch sử của thế kỷ XV chính là nắm cho được hai điển hình đối lập tuyệt đối trong bước đổi thay lịch sử phi thường đó: kẻ thù là kẻ thù mới với những thủ đoạn xưa kia chưa từng thấy, nhưng về mặt mưu đồ và bản chất hiểm ác vẫn chính là hiện thân của những tên xâm lược cũ; và dân tộc ta tuy gắn bó với quá khứ sâu nặng nhưng lại là một dân tộc đang thăng hoa khỏi tầm vóc quá khứ, biểu hiện một sức mạnh hồi sinh.

Ngón đòn cổ điển nhất của các vị Hoàng đế phương Bắc trước hết là những âm mưu gây hấn đối với Việt Nam. Về phương diện này, nhà Minh đã tỏ ra không kém cạnh chút nào so với các triều đại cha anh của họ. Vì thế, cũng giống như tình hình của rất nhiều cuộc “Nam chinh” trong quá khứ, chiến cuộc 1406 thật ra đã được “thiên triều” chuẩn bị chu đáo trước đấy lâu lắm rồi. Vấn đề là về hình thức, phải tìm ra một cái cớ thích hợp để mà “sinh sự”, và về thực chất, phải làm sao dò thật trúng thực lực của Đại Việt để lượng sức mình. Hai mặt này thường vẫn gắn chặt với nhau, tác động lẫn nhau trong quá trình chuẩn bị âm thầm của họ.

 Năm 1377, chỉ mới chín năm sau ngày giành được địa vị “con trời”, ông vua Minh đầu tiên đã nóng nảy muốn vin cớ vua Trần Duệ Tông nước ta tử trận trong cuộc thân chinh phương Nam (1377) mà cất quân sang hỏi... “tội” (!). Nhung “hỏi tội” một vị vua vì “chống nạn cứu dân” mà không may bị chết? Trước lời lẽ cứng rắn của Trần Đình Thâm, sứ giả nước ta, vua Minh đuối lý, không những phải cử người sang dự lễ viếng, mà còn đành phải gác lại bao nhiêu mưu kế những toan đem thi thố phen này(1). 

Dĩ nhiên, gác lại không có nghĩa là xếp bỏ hẳn, mà chỉ là buộc lòng nén lại những dự định bên trong ngày một sục sôi. Tháng 9 năm 1384, nhân cho quân lính tiến xuống đánh Vân Nam, vua Minh thảo công văn đòi nước ta cấp lương cho đạo quân “tiễu phạt” của y. Ta nhân nhượng. Rồi các năm 1385, 1386, vua Minh vẫn đưa ra những yêu sách vô lý, phiền hà. 

Nào bắt nộp hoạn quan, nào muốn tìm giống cây xứ nóng, thậm chí đòi cả voi để “thiên triều” mang đi đánh trận. Năm 1395, Minh còn trắng trợn sai bọn Nhâm Hanh Thái sang xin ta giúp 5 vạn quân, 50 con voi và 50 vạn hộc lương với dụng ý chộp bắt sứ giả của ta để kiếm chuyện. Nhưng Nhâm Hanh Thái lại mật báo cho ta biết trước, vì thế ta đã kịp thời đề phòng, chỉ cho chở một ít lương lên biên giới rồi rút về ngay chứ không cấp lính và voi.

Một vài ví dụ như trên cũng đủ thấy tên lãnh chúa phong kiến phương Bắc mới phất lên này nóng lòng dòm ngó Đại Việt đến đâu. Nhưng mặt khác, một thực tế cũng dễ thấy là mặc dù rất tham lam, các ngài ngự “Đại Minh” vẫn phải kéo dài việc chuẩn bị xâm lược suốt 30 năm, từ đời vua cha đến đời vua cháu(2). Vì sao có cái mâu thuẫn hết sức lạ đời đó? 

Chắc hẳn trong khi rút kinh nghiệm quá khứ, bài học thảm bại chưa xa xôi gì của những kẻ “đi trước” đã không khỏi làm cho các ngài đâm ra e ngại, trùng trình: “Nước An Nam tuy ở góc biển nhưng xưa kia đã là quận huyện của Trung Quốc. Từ đời Ngũ quý về sau sức ta không còn chế ngự nổi họ. Qua Tống đến Nguyên, tuy muốn mưu đồ nhưng không thành, chỉ để tiếng chê cười cho hậu thế”(3).

 Đấy là lời thú nhận của Minh Thành Tổ trong sắc chỉ y gửi viên Tổng binh Chu Năng – viên tướng đầu tiên cầm quân sang đánh Đại Việt theo lệnh của y – đề ngày 1 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406). Cũng ở sắc chỉ đó còn nêu một lời nhận xét của Minh Thành Tổ về nguyên nhân thất bại của Tống và Nguyên: “Tống cũng như Nguyên đều cho quân sang đánh An Nam, nhưng tướng thì kiêu, binh thì lười, lại còn tham tài hiếu sắc, vì thế mà không thành”(4). Sự thật thì tuy làm ra vẻ cười ngạo tổ tiên mình, ông Hoàng đế khét tiếng về tham vọng và tàn bạo này cũng chẳng can đảm hơn bao nhiêu trên vấn đề xâm lược Việt Nam. 

Năm 1403, bốn năm sau khi Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần, tình hình mâu thuẫn và bế tắc trong tập đoàn phong kiến Trần – Hồ không những không giải quyết được mà còn thêm gay gắt, cái cớ gây hấn đã có thể kiếm ra rất dễ, điều kiện gây hấn cũng đã hết sức thuận lợi; lại cũng là năm Minh Thành Tổ vừa dùng mọi thủ đoạn đoạt được ngôi từ trong tay cháu ruột của mình; ấy thế mà đối với nước ta, ông ta vẫn sợ và gờm, chỉ mới dám cho bọn hoạn quan người Việt trở về làm do thám một lần cuối, và chuẩn bị nội ứng, ước hẹn ngoài đánh vào thì trong cắm cờ vàng làm hiệu.

 Thế rồi, phải ba năm sau nữa, khi mọi yêu cầu tìm hiểu đã được đáp ứng đầy đủ, cảm thấy không còn một trở ngại nào đáng kể trên con đường tiến xuống kinh đô Đại Việt, Minh Thành Tổ bấy giờ mới thật quyết tâm khởi thế công. Một mặt, ông ta vờ làm to chuyện lên rằng đến lúc này không ai còn chịu đựng nổi những việc Hồ Quý Ly truất ngôi các vị vua Trần và giết hại đám con cháu nhà Trần (vốn là việc đã xảy ra sáu, bảy năm về trước!): “Bề tôi [cũ của họ Trần] là [Lê] Quý Ly và Lê [Hán] Thương từ lâu nuôi lòng lang sói, rốt cuộc làm việc cắn càn, ra tay thí nghịch quốc vương, tàn sát người trong dòng họ Trần, cả những bề tôi của họ Trần cũng trong vòng thảm khốc, bị hãm vào chỗ chết. 

Bọn chúng gieo đau khổ cho sinh dân, đến gà chó cũng không yên sống, tiếng hờn oán dấy lên đầy đường”(5). Mặt khác, với ngón bịp sở trường từ tổ tiên mình truyền lại, ông ta lại cũng ra điều ta đây bất nhẫn, không định gây việc can qua làm gì, chỉ vì Hồ Quý Ly quá lắm nên phải động binh; song động binh mà vẫn rất nhân từ, muốn thu xếp ổn thoả bằng cách cho cha con họ Hồ “đem trăm vạn lạng vàng và một trăm con voi ra chuộc tội. Nếu không đủ thì cho phép đem châu ngọc bảo bối thế vào cho đủ. Có thế đại quân mới không tiến sang”(6). Kỳ thực, có đúng thế hay không? 

Trong đạo sắc bí mật gồm 10 điều căn dặn riêng viên Tổng binh Chu Năng – gửi mấy ngày trước ngày ban bố tờ chiếu công khai trên đây – Minh Thành Tổ đã thổ lộ “can tràng” của ông ta: “Nay sai Chu Khuyến, Trương Anh đem công văn của Bộ Lễ sang An Nam đòi nộp voi và vàng. Làm kế ấy để cho chí chiến đấu của chúng buông lỏng chứ không phải là thực bụng. Khi bọn Chu Khuyến ra đi, trẫm từng gặp mặt phủ dụ, bảo chúng đến nuớc họ chỉ ở lại 5 ngày, nếu 5 ngày chưa xong thì cho phép được bao nhiêu hãy cứ nộp truớc, sau sẽ sai người mang tiếp sang nộp cho đủ. Ngươi chờ cho bọn Chu Khuyến đi rồi thì đại quân phải tức khắc xuất phát theo sau. Nếu gặp kẻ đuợc phái sang nộp voi và vàng thì cứ bắt giữ lại để tra hỏi tin tức, nhưng đừng hở cho họ biết kẻ sai đi đã bị bắt... Nay bọn Chu Khuyến vào nước đó, mọi việc ngươi nhất thiết chớ hở ra cho ai biết”(7).
Gớm ghê thay miệng lưỡi từ bi và lòng dạ thực của đấng “thiên tử”! Duy có điều là ngay cả vào lúc đó rồi mà ngài vẫn còn e dè gửi tiếp những sắc chỉ căn dặn: nào là “nước An Nam giàu mạnh đã lâu”(8), nào là “quân lính của họ tất có phòng bị trước”, nào là “cha con họ Lê – tức họ Hồ – lắm mưu mẹo giảo quyệt”, tuyệt nhiên không thể sơ hở hoặc xem thường. Trong nhiều đạo sắc, Minh Thành Tổ đều tỏ ý lo lắng khi quân mình vượt sông Phú Lương là chỗ hiểm yếu bậc nhất, sẽ thua mưu kế của Hồ Quý Ly.

 Y viết rõ trong một sắc chỉ đề ngày 14 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1407) nói về đạo binh của Trương Phụ: “Cứ đóng quân mãi trên sông giằng co với giặc chính là rơi vào mưu kế của giặc Lê [Quý Ly] nhằm giữ chân quân ta thật lâu, đợi cho dịch lệ phát sinh; vì thế phá được mưu này thì phải thần tốc không được trì hoãn”(9).

Rõ ràng, vừa khát thèm lại vừa e sợ, vừa hung hăng lại vừa lo ngại, vừa ráo riết sửa soạn lại vừa trù trừ cho đến tận phút cuối cùng, cuộc chiến tranh xâm lược của giặc Minh ở thế kỷ XV quả đã không còn là ngón đòn mới mẻ gì đối với nhân dân Việt Nam. Bước ra quân ban đầu của “thiên triều” phải mang tính chất hai mặt: nhanh mà chậm, nóng mà lạnh, đánh thực mà cũng là đánh dứ, cũng chính là vì vậy.
*
Tuy nhiên, đấy chỉ là cái dè dặt của buổi ban đầu. Khi đã dấn sâu vào đất nước ta, thấy rõ chỗ thất thế của nhà Hồ, bọn giặc xâm lược liền lộ hết vuốt nanh và hành vi táo tợn. Một chiến lược tập kích ồ ạt nhằm phá vỡ phòng tuyến chính để tiến thẳng đến Thăng Long, và từ Thăng Long đánh toả xuống phía Nam, được thi hành. Một chế độ thống trị ngoại bang được dựng lên chớp nhoáng ở khắp mọi miền, thành thị cũng như nông thôn mà chúng vừa đặt chân đến.

 Và một chính sách chém giết thẳng tay cũng được đem ra ban phát lập tức cho dân chúng. “Trương Phụ đi đến đâu là giết hại, hoặc chất thây người thành núi, hoặc rút ruột người quấn vào cây, hoặc rán thịt người lấy mỡ, hoặc làm nhục hình bào lạc để mua vui. Thậm chí có kẻ mổ bụng người chửa, moi thai, cắt lấy tai của mẹ và con để tính làm hai mạng người”(10).

Tuy nhiên, đấy chỉ là cái dè dặt của buổi ban đầu. Khi đã dấn sâu vào đất nước ta, thấy rõ chỗ thất thế của nhà Hồ, bọn giặc xâm lược liền lộ hết vuốt nanh và hành vi táo tợn. Một chiến lược tập kích ồ ạt nhằm phá vỡ phòng tuyến chính để tiến thẳng đến Thăng Long, và từ Thăng Long đánh toả xuống phía Nam, được thi hành. Một chế độ thống trị ngoại bang được dựng lên chớp nhoáng ở khắp mọi miền, thành thị cũng như nông thôn mà chúng vừa đặt chân đến. 

Và một chính sách chém giết thẳng tay cũng được đem ra ban phát lập tức cho dân chúng. “Trương Phụ đi đến đâu là giết hại, hoặc chất thây người thành núi, hoặc rút ruột người quấn vào cây, hoặc rán thịt người lấy mỡ, hoặc làm nhục hình bào lạc để mua vui. Thậm chí có kẻ mổ bụng người chửa, moi thai, cắt lấy tai của mẹ và con để tính làm hai mạng người”(10).

Có thể nói, nói đến đặc điểm thứ hai trong chân dung của tên xâm lược mới ở thế kỷ XV là nói đến hình ảnh các viên quan cai trị nhà binh với tất cả những thủ đoạn giết người – trị người – dùng người gắn bó với nhau một cách tinh vi và nham hiểm. Sau nhiều lần cố gắng phản công ở Hàm Tử, Lỗi Giang, Điển Canh, Kỳ La,... nhưng đều thất bại, vào tháng 6 năm 1407, nhà Hồ cùng quẫn và bị bắt ở núi Thiên Cầm. 

Cả nước rơi vào tay giặc, và trở thành một lò sát sinh, một công trường lao dịch khổ sai, một nơi để giặc Minh thoả sức tìm tòi thức ngon của quý. Ngay trong những ngày đang trên đường tiến sang nước ta, bọn tướng tá viễn chinh đã nhận được sắc chỉ của vua Minh căn dặn hễ đến đâu là phải tịch thu hết giấy tờ, sổ sách kê khai nhân khẩu và ruộng đất đến đấy; phải lập ngay chế độ thuế khóa trên những vùng vừa chiếm đóng; và chú ý khai thác các mỏ bạc, mỏ vàng. Kể cả những mỏ nằm trên biên giới Việt – Chiêm, chưa rõ thuộc phần đất bên nào, cũng được lệnh cứ cướp lấy chứ không cần tra xét hư thực(11). 

Hai cơ quan Kim trường cục và Châu trường cục được thành lập, nhằm xua dân miền biển và miền núi vào mọi công việc đãi vàng, mò vàng, mò ngọc. Chưa hết. Còn chế độ lao dịch ở đồng quê, ở thành thị... Đâu đâu cũng cái cảnh “bị người Minh sai khiến mà mất cả gia thuộc”(12), “bị bắt hết làm nô tỳ và chuyển bán đi mà tan tác bốn phương” (13).

Đẩy nhân dân Đại Việt đến chân tường, giặc Minh phải đâu đã thoả. Chúng còn tìm cách thâu tóm vào tay mình hoặc nếu không thì triệt cho hết trong đám người còn sống sót những ai thật sự có tài năng. Hễ nghe ở đâu trong các châu quận nước ta có thầy hay, thợ giỏi, bọn quan cai trị đều cho lập danh sách đem “tiến” về Yên Kinh. Các loại người bị tiến nhiều nhất là thầy thuốc, thợ thủ công, ca nữ tuyệt sắc, thầy bói và thầy địa lý;...

Mỗi năm Minh hoàng lại gửi sang một lệnh. Mỗi năm, hàng nghìn người dân Việt lại lìa bỏ gia đình xứ sở, ra đi, để rồi không bao giờ trở về.

Nhưng cho dù có tìm mọi mưu kế bắt và giết người dần mòn để bổ sung cho những cuộc tàn sát hàng loạt thì vẫn không thể nào là kế sách cai trị vẹn toàn. Giặc Minh biết vậy nên cũng lại ra sức thi hành một chính sách “mặt trái” rất khôn khéo: chính sách mỵ dân. 

Trong một đạo sắc, vua Minh khẩn khoản dặn đám tướng tá: hễ người dân Việt nào chống lại thì diệt kỳ sạch, nhưng ai đã đầu hàng thì phải tha ra, không giết bừa(14). Tưởng chừng đại Hoàng đế ngài nhân từ có một. Có ngờ đâu, tha, theo ý ngài, là bắt đem “cung hình” (thiến) nhất là đối với lớp người Việt trẻ(15), sau đó cung cấp cho cái chế độ quan liêu đồ sộ của Minh hoàng vốn đang rất thiếu nô bộc và thái giám hầu hạ!

Đặc biệt, trong chính sách dùng người, nhà Minh đã tỏ rõ khả năng vượt hơn những kẻ xâm lược xưa kia một bước rất dài. Trừ những chức quan cao cấp ra, chúng đặt người Việt vào mọi địa vị quan chức từ quận, huyện trở xuống. Và một chính sách lục dụng đám trí thức, quan lại cũ của Đại Việt được ban bố trong rất nhiều đạo sắc từ 1406 đến mãi những năm sau khi khởi nghĩa Lam Sơn đã nổi dậy, có thể nói là nhiều nhất trong số sắc chỉ của các vua Minh về vấn đề Việt Nam. Đây quả là một đường lối mà nhà Minh kiên nhẫn theo đuổi đến cùng.

 Có trường hợp những người có tên tuổi, hoặc có ảnh hưởng trong dân chúng như Nguyễn Cảnh Chân, Đặng Tất, Phạm Thế Căng, Trần Nhật Chiêu, Trần Thúc Dao,... chính vua Minh trực tiếp chỉ thị phải dụ dỗ cho bằng được(16). Có trường hợp khác như Bùi Bá Kỳ, bọn quan lại dưới quyền sơ ý để đến nỗi ông ta từ chỗ chạy sang Minh cầu cứu đến chỗ mất hết lòng tin tưởng, vua Minh cũng trực tiếp xuống chỉ rút kinh nghiệm về việc “dùng người” và than thở không thôi(17). 

Sự chu đáo trong chính sách “chiêu hồi” này còn biểu hiện ở cung cách chiêu hồi: tất cả đều được lập thành danh sách, mời về Yên Kinh khoản đãi và để cho bọn quan lại cao cấp nhà Minh chủ yếu là Hoàng đế “bồi dưỡng về lập trường quan điểm”, rồi sau đấy lại được trả trở về Giao Chỉ, phân bổ đi nhận các chức quan(18).

Nhưng thủ đoạn mỵ dân mà nhà Minh lưu tâm hàng đầu – và từ đây cũng sẽ đẻ ra nhiều nhiệm vụ phức tạp cho cuộc đấu tranh chính trị chống xâm lược – chính là một phương sách hai mặt: vừa triệt để thống nhất về bản chất với những tên xâm lược trong quá khứ, lại vừa làm ra vẻ giữa mình và quá khứ có một bước ly khai. Ngay trong đạo sắc 10 điều của Minh Thành Tổ đề ngày 8 tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (21.8.1406) gửi viên tướng viễn chinh Chu Năng trên đường y cất quân sang Đại Việt, đã dẫn một phần ở trên, có một điều thứ tư rất đáng chú ý: “Hỏi xem cột đồng trụ hiện dựng ở đâu, phải đập cho nát và ném ra ngoài đường, để cho nguời trong nước đều trông thấy”(19).

 Chắc ai cũng phải lấy làm lạ: một bằng chứng “chinh phục” tiếng tăm của Mã Phục Ba thời Hán, cũng là một dấu vết của sự sỉ nhục mà người Việt nhiều đời đã phải ném đá chồng lên cho mất tích, ấy thế mà vua Minh lại bắt phá đi? Ông ta hớ hênh dại dột, hay ngông cuồng, hay thật bụng nhân đức? Đâu có phải vậy! Thực tình Minh Thành Tổ coi đây là một việc hệ trọng, và trong những sắc chỉ ban bố một năm sau đó, ông ta còn nhắc lại điều này(20).

 Dám hy sinh đến cả “sự nghiệp” vênh vang của “tiền nhân”, phải chăng tên đầu sỏ xâm lược ở thế kỷ XV muốn nhờ đấy đánh đổi lấy một bộ mặt mới, chí ít cũng giúp y che giấu phần nào cái bản chất “một đồng một cốt” giữa y với Mã Viện, để y có thể thừa cơ tung hoành? 

Có lẽ! Nhưng chắc chắn còn những lý do thâm trầm hơn. Kinh nghiệm xương máu đã cho tên trùm Đại Hán thấy, đụng đầu vào xứ sở Đại Việt quả là điều gay. Một cột đồng trụ những tưởng nhục mạ được dân Nam và trói chặt họ vào một cái mốc “chiến bại”, thì rốt cuộc cũng có nghĩa gì đâu khi mà, vượt lên trên tất cả những thứ cột mốc hình thức kia, một quy luật lịch sử lạnh lùng – mà ngay nhiều tên xâm lược cũng phải đành lòng thừa nhận – cứ tự nó phát huy tác dụng: “... dù có cướp được nước họ thì rồi cũng không thể giữ được”(21).

 Có nghĩa là chỗ khó khăn nhất, mà quả là khó, là làm sao biến được dân tộc Việt thành người Trung Quốc, để vĩnh viễn họ không còn tìm cách nổi dậy, và đất nước họ vĩnh viễn là quận huyện của “thiên triều”? 

Thủ đoạn đập phá cột đồng trụ của Minh Thành Tổ chính là một cách lý giải mới đối với bài tính nát óc này. Y quyết tâm phủ nhận những ràng buộc vô hiệu bề ngoài mà tìm kiếm những ràng buộc lợi hại hơn hẳn. Đó là những trói buộc nghiệt ngã trên lĩnh vực tư tưởng, những quy định có tính chất chuyên chế, độc đoán về sinh hoạt tinh thần.

Lần đầu tiên, trong lịch sử xâm lược Đại Việt của bọn chúa tể phong kiến Trung Quốc, tên xâm lược nhà Minh áp đặt một cách gay gắt vấn đề hệ tư tưởng đối với xã hội Việt Nam. Trong bản bố cáo đề ngày 8 tháng Tư năm 1407, sau khi chiếm xong nước ta, Minh Thành Tổ dành hẳn một đoạn khá văn hoa để nhấn mạnh rằng, một trong những tội trạng của Hồ Quý Ly khiến “ngài” không thể không “chinh thảo”, là họ Hồ đã tự coi “đạo của mình hơn cả Tam vương, đức cao hơn Ngũ đế, cho Vũ, Thang, Văn Vương, Vũ Vương không đủ để noi theo, Chu Công Khổng Tử không đáng làm thầy mình, giễu Mạnh Tử là nhà nho ăn cắp, nhạo Chu [Đôn Di], Trình [Hiệu, Trình Di], Truơng [Tải], Chu [Hy] là phường trộm cướp”(22), v.v. Cơn giận của “ngài” kể cũng dễ hiểu, bởi một nước tự xưng là “thần tử” của Hoa hạ làm sao có thể dám coi thường cái đạo mà các Đại Hoàng đế Trung Quốc tôn thờ? Nhưng còn một lẽ sâu xa nữa là có đưa đạo Nho lên làm “đạo thống” thì mới dễ dàng phát huy ảnh hưởng của “thiên triều” tới các cõi xa, nói như họ Khổng là “làm cho xa thư về một mối”. Và khi đã “gắn bó với nhau về ý thức hệ” thì há miệng mắc quai, cúi mọp đầu không dám phản kháng là điều dễ hiểu.

Dù sao, vấn đề không chỉ giản đơn có vậy. Minh Thành Tổ muốn lấy đạo Nho để thống trị nhân dân Đại Việt, nhưng rồi y lại còn muốn đi xa hơn. Cuồng vọng bá chủ sôi sục khiến y cảm thấy như thế vẫn chưa thoả lòng. Tốt nhất là làm sao cho nước “man di” kia không còn có gì gọi là long mạch tư tưởng, tinh thần. 

Y muốn xóa sạch ở cái dân tộc nhỏ bé phương Nam đầy sức tự cường mà trong lòng nhiều thế hệ những tên giặc Bắc vẫn rất khiếp sợ, toàn bộ ý thức về quá khứ lịch sử của chính họ. Mà xóa sạch được quá khứ của một dân tộc chính là cách cắt đứt nguồn tiếp sức quan trọng của dân tộc đó, đặt họ vào chỗ mù mịt tối tăm, phá tan đi cái nền tảng làm cho họ tồn tại và sinh thành. Muốn vậy phải làm thế nào? Không có cách nào hữu hiệu hơn là tàn phá không thương tiếc tất cả những gì là sản phẩm trí tuệ của dân tộc này, nó là biểu trưng cho văn minh, văn hóa. 

Trong sắc chỉ 10 điều của Minh Thành Tổ gửi Tổng binh Chu Năng đã nói ở trên, bên cạnh những điều căn dặn tỉ mỉ về cách chế ngự “hoả khí” lợi hại của cha con họ Hồ, về việc tịch thu sổ sách kê khai nhân khẩu và ruộng đất, hoặc đập phá cột đồng trụ,... còn một điều đặc biệt hơn mọi điều kia: “Một khi binh lính vào nước Nam, trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy; ngoài ra hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến cả những loại [sách] ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ, như loại sách có câu “Thượng đại nhân, khưu ất dĩ” một mảnh một chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá sạch hết thảy, một mảnh một chữ chớ để còn”(23).

Thử lần tìm cái động cơ chính ẩn trong đạo sắc văn này. Tên vua Minh nói: tất cả những gì thuộc nền văn hóa chính quốc Trung Hoa, kể cả sách kinh của Phật và Lão, đều được giữ lại đầy đủ. 

Trái lại, bao nhiêu trước tác thuần túy Việt Nam thì đều phải phá hủy. Vậy ra, sự lựa chọn của y chẳng phải là đạo Nho hay một hệ tư tưởng chính thống nào cả.

 Đối với người Giao Chỉ cũng như các dân tộc bị y xâm lược, y chỉ cần một sự lựa chọn đơn giản, mà lại thực dụng hơn nhiều: hãy bắt họ từ bỏ tất cả những gì sinh ra trong đầu óc của chính dân tộc họ kể cả trong quá trình tiếp nhận những gì là vốn liếng tinh thần của “nước mẹ Đại Minh”. Ý hẳn Hoàng đế nhà Minh muốn bắt các dân tộc thôi đừng có tự mình tư tưởng nữa. Mà không tư tưởng, thì có nghĩa là... không tồn tại.

Thế rồi, từ trong thâm cung tại Yên Kinh, Hoàng đế nhà Minh ngày đêm lo theo dõi, đôn đốc việc thi hành lệnh chỉ đã ban ra. 

Đến nỗi khi thấy có một bộ phận quân lính không chịu làm theo đúng lệnh, nghĩa là không đốt ngay sách vở cướp được của nước ta mà còn giữ lại, y lập tức gửi một tờ lệnh thứ hai nhắc lại đúng những điều đã chỉ thị từ trước, lại giải thích rõ vì sao cần đốt ngay tại chỗ chứ không nên giữ lại: “Nhiều lần đã bảo các ngươi rằng phàm An Nam có tất thảy những sách vở văn tự gì, kể cả các câu ca lý dân gian, các sách dạy trẻ, như loại “Thượng đại nhân, khưu ất dĩ” một mảnh một chữ đều phải đốt hết, và tất thảy các bia mà xứ ấy dựng lên thì một mảnh một chữ hễ trông thấy là phá hủy lập tức, chớ để sót lại. 

Nay nghe nói những sách vở do quân lính bắt được, không ra lệnh đốt ngay, lại để xem xét rồi mới đốt. Quân lính phần đông không biết chữ, nếu đâu đâu cũng đều làm vậy thì khi đài tải sẽ mất mát nhiều. Từ nay các ngươi phải làm đúng như lời sắc trước, truyền cho quân lính hễ thấy sách vở văn tự ở bất kỳ nơi nào là phải đốt ngay, không được lưu lại”(24).

Dĩ nhiên, ngay những tên đã trù mưu định kế ăn cướp nước ta cũng cảm thấy một chủ trương tàn bạo như thế thực muôn phần nguy hiểm. Nó sẽ dẫn đến làm nổ bùng lòng căm phẫn ngút trời của cả một dân tộc, và sức mạnh có tính dây chuyền của sự bùng nổ đó chắc sẽ gây nên những hậu quả khôn lường. Cũng vì thế, đi kèm với những điều lệnh, Minh Thành Tổ còn bắt quân lính phải giữ thật kín chủ trương của mình. 

Sau gần một năm đốt phá, biết rằng yêu cầu của việc phá hoại về căn bản đã xong, ngày 19 tháng Năm năm Vĩnh Lạc thứ 5 (25 - 6 - 1407), y lại gửi một sắc chỉ xuống phương Nam ra lệnh cho các tướng lĩnh của y phải cấp tốc thu hồi những đạo dụ y đã ban ra từ trước: “Nay An Nam đã bình định xong; [...] trừ các loại chế dụ ra còn thì tất cả các đạo sắc viết tay và các ký sự thư thiếp, đã từng phát đi từ trước, cùng với sổ ghi chép mà Thành quốc công đã lĩnh, hoặc các thứ [sổ sách] trù nghị mọi việc, đều phải đem toàn số kiểm kê, đối chiếu, niêm phong cẩn mật, gửi trả lại, không cho lưu lại một chữ. Nếu có một chữ bỏ lại, rơi vào tay bọn kia(25) thì rất bất tiện”(26).

Tưởng cũng khó có thể chê trách gì về sự cao tay của Minh Thành Tổ trong việc xếp đặt đâu ra đấy từng bước “tiến”, “thoái”, “thắt”, “cởi” cho mọi hành động tàn phá kinh khủng nhất của mình. Nếu nghệ thuật diệt chủng của y thâm thúy đến mức đẩy đối tượng bị tiêu diệt vào một tình trạng trống rỗng, hư vô, không còn quá khứ cũng không còn tương lai, nghĩa là cứ dần dần “tự diệt”, thì nghệ thuật xóa dấu vết của y cũng tinh vi đến mức y vừa ăn cướp lại vừa có thể hùng hổ la làng rằng bị cướp đe dọa. 

Âu đây chính là những dáng nét hiện đại nhất của tên xâm lược Đại Hán ở thế kỷ XV vốn sẵn có trong mình cái bản chất xâm lược dã man của nhiều thế hệ cha ông đã thấm vào máu thịt; là cái được nhân lên, biến hóa sinh động hơn những thủ đoạn cướp đất giết dân hôm qua hôm kia còn rất quen thuộc mà nay đã bị xem là quá cổ lỗ và thật thà.

N.H.C.
---------------
Chú thích:
Những chú thích dưới đây, so với bản in lần đầu của bài này (ngày 14.9.2013), đã được chỉnh sửa theo chỉ dẫn của tác giả, thống nhất theo bản Việt kiệu thư của viện Viễn Đông bác cổ thời Pháp, nay là Thư viện Viện Khoa học xã hội (xem chú thích số 1., bài Sách Việt kiệu thư trong con mắt giới sử học đương đại). Diễn Đàn.

(1) Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Cao Huy Giu dịch, NXB Khoa học xã hội, in lần thứ hai, H., 1971; tr. 189.

(2) Thật ra, khi cháu Minh Thái Tổ lên nối ngôi thì chú y, tức Chu Đệ 朱棣 liền cướp lấy mà lập ra triều đại thứ ba của nhà Minh (1402 - 1424), tức Minh Thành Tổ.

(3) Lý Văn Phượng , Việt kiệu thư (1540). Đây là một tài liệu quý, ghi chép khá đủ theo trật tự thời gian những đạo sắc chỉ của Minh Thành Tổ gửi đều đặn (thường là vài ngày một đạo) đến các tướng chỉ huy trong cuộc xâm lăng Đại Việt 1406-1407. 

Trước đây chúng tôi chỉ tham khảo duy nhất cuốn sách này của Thư viện Viện Khoa học xã hội vốn là sách của Viện Viễn Đông bác cổ Pháp cũ, ký hiệu: 1731, (nay thay đổi ký hiệu là: VH. 000276 - HV. 000281), nhưng năm 2001, sang làm việc ở Thư viện Yenching Harvard, tìm thêm được văn bản do Tề Lỗ thư xã xuất bản, Nam Kinh, 1996. 

Tuy vậy, trong bài này, vẫn xin ghi chú số quyển và trang và theo bản của Thư viện Viện Khoa học xã hội để cho thống nhất. VH. 000276, Q. 2, tờ 19a: 。自 。五 能制 。歷 。貽 (Kim An Nam tuy tại hải tưu, tự tích vi Trung Quốc quận huyện. Ngũ quý dĩ lai lực bất năng chế. Lịch Tống cập Nguyên tuy dục đồ chi nhi công vô sở thành, di tiếu hậu thế).

(4) Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 20a (Điều ghi chú thứ 9 trong 18 điều khoản kèm theo tờ sắc này): 南。將 懦。貪 色。以 (Tống Nguyên giai phát binh chinh thảo An Nam, tướng kiêu binh nọa, tham tài hiếu sắc, dĩ thử bất năng thành).

(5) “Chiếu bá cáo thiên hạ về việc bình định An Nam”, đề ngày 1 tháng Ba năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407). Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 27b. Nguyên văn: 。竟為 。舉 王。 宗。覃 。掊 。毒 。雞 犬弗 。怨 (Kỳ thần [Lê ] Quý Ly, Lê [Hán] Thương cửu súc hổ lang chi tâm, cánh vi thôn phệ chi, cử thí kỳ quốc vương, thương kỳ bản tông, đàm bị bồi thần trọng duy thảm khốc, bồi khắc sát lục, độc bệnh sinh dân, kê khuyển phất ninh, oán thanh tái lộ).

(6) Sắc chỉ đề ngày 29 tháng Bảy năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406). Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 18a. Nguyên văn: 西 。安 。原 改過 。只 。象 。許 之。以 。大 (Kim Quảng Tây tấu: An Nam khiển nhân lai cống tạ tội. Nguyên Hồ yêm, phụ tử tội bản nan dung. Kim ký cải quá tự tân, chỉ trước tha biện hoàng kim ngũ vạn, tượng nhất bách chích, dĩ thục kỳ tội. Kim tượng bất túc, hứa dĩ châu ngọc bảo bối đại chi, dĩ túc kỳ số tức chỉ, đại quân bất tiến).

(7) Điều thứ 10 trong 10 điều căn dặn trong đạo sắc chỉ bí mật, xếp sát ngay sau đạo sắt đề ngày 4 tháng Bảy nhuận năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406). Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 17b: 遣朱 象。此 計蓋 鬥志。非 臨行 。今 到彼 。若 辨不 人納 。爾 。大 軍隨 後亦 。訖 。須 令彼 。今 。爾 (Kim khiển Chu Khuyến, Trương Anh tu Lễ bộ tu văn vãng An Nam sách kỳ kim tượng. Thử kế cái dục thỉ kỳ đấu chí, phi chân thực ý dã. 

Chu Khuyến đẳng lâm hành, trẫm tằng diện dụ chi, kim đáo bỉ chỉ trú ngũ nhật. Nhược ngũ nhật nội thố biện bất túc, hứa tùy đa thiểu tiên tương lai, hậu khước sai nhân nạp túc. Nhĩ đãi Chu Khuyến đẳng nhân khứ, đại quân tùy hậu diệc tiến. Nhuợc ngộ sai xuất nạp kim tượng chi nhân tựu chấp chi, cật vấn thanh tức. Tu vật linh bỉ tri sai lai bị chấp. Kim Chu Khuyến đẳng đáo xứ, nhĩ sự cơ thiết bất khả linh nhân tri chi).

(8) Sắc chỉ ngày 1 tháng Tám năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406). Việt kiệu thư, Q. 2, Sđd tờ 20a: 安南 [。。 ] 。其 (An Nam tự ngã triều dĩ lai, [...] sổ thập niên bất tằng dụng binh, kỳ quốc trung phú thứ).

(9) Sắc chỉ đề ngày 14 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1407), Việt kiệu thư, Sđd; Q.2, tờ 24a. Nguyên văn: 。黎 。破 速。不 (Đốn binh giang thượng dữ tặc tương trì, Lê tặc chi kế chính dục trì cửu dĩ đãi chướng lệ phát. Phá chi quý tại thần tốc, bất nghi trì hoãn).

(10) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Cao Huy Giu dịch, 1971, Sđd; tr. 262.

(11) Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2, tờ 22a đề rõ, ngày 6 tháng Chín năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406), Minh Thành Tổ ban hành một điều khoản như sau: 。銀 而界 。亦 。平 。只 。縱 (An Nam kim trường, ngân trường dao văn nguyên thị Chiêm Thành chi địa, nhi giới tương tranh dĩ cửu, diệc vị khả tín. Bình định chi hậu, chỉ dĩ kiến đắc địa giới vi chuẩn. 

Túng nhiên Chiêm Thành hữu thỉnh, diệc bất khả nghĩ hoàn). Nghĩa là: Từ xa trẫm nghe nói mỏ vàng mỏ bạc nguyên là phần đất Chiêm Thành, địa giới hai bên tranh chấp đã lâu, cũng chưa rõ thế nào. Sau khi bình định xong, cứ lấy địa giới mà mình trông thấy làm chuẩn, nếu Chiêm Thành có cầu xin cũng không trả.

(12), (13) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Cao Huy Giu dịch, 1971, Sđd; tr. 250, 262.

(14) Sắc chỉ đề ngày 4 tháng Mười một năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 23b. Nguyên văn: 。但 甲卻 者。一 (Đại quân nhập An Nam, đãn hữu trợ Lê khấu lai cự địch giả, sát chi.

 Nhược hữu năng khí giáp khước qua hàng giả, nhất nhân bất khả võng sát).

(15) Sắc chỉ đề ngày 16 tháng Chín năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 22b. Nguyên văn: 。宜 。亦 。他 以克 使 (Kỳ hữu niên thiếu nhi tội đáng tử giả, nghi xử dĩ cung hình, diệc khả dĩ bảo toàn kỳ mệnh, tha nhật hựu đắc dĩ khắc sử lệnh).

(16) Sắc chỉ đề ngày 29 tháng Chín năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Q. 2, Sđd; tờ 37b.

(17) Sắc chỉ đề ngày 20 tháng Ba năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 29b. Nguyên văn: 。道 。一 能成 。朕 。古 。爾 (Sắc truyền tấu ngôn Bùi Bá Kỳ sự vi tương chi. Đạo tại ư dụng nhân, nhất Bùi Bá Kỳ bất năng dụng, hà dĩ năng thành sự công hiệp? Trẫm hữu Nam bỉ hựu ưu. Cổ nhân dụng nhân chi pháp cụ hữu phương sách, nhĩ nghi thẩm quan cố sắc).
(18) Sắc chỉ đề ngày 22 tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Q. 2, Sđd; tờ 25b - 26a. Nguyên văn: 。即 。聽 。給 印信 。如 。隨 。不 (Phàm An Nam quan lại lai quy hàng giả, tức lục tục khiển chi lai triều, thính trẫm diện dụ, cấp dữ ấn tín, tỷ hoàn quản sự. Nhu hoặc sự thế vị khả hựu tại, tùy nghi xử trí, bất khả chấp nhất).
(19) Điều thứ tư trong Sắc chỉ bí mật, đề ngày 4 tháng Bảy nhuận năm Vĩnh Lạc thứ 4 (21.8.1406), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 17a. Nguyên văn: 便 之。委 (Phỏng vấn cổ thời đồng trụ sở tại, diệc tiện toái chi, uỷ chi ư đạo dĩ thị quốc nhân).

(20) Điều ghi thêm thứ hai trong Sắc chỉ đề ngày 9 tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407),Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 25b.

(21) Trích thư bọc sáp của tướng Minh Vương Thông gửi về nước năm 1427. Một viên quan cai trị khác của nhà Minh là Giải Tấn cũng từng tâu lên vua Minh những lời tương tự. Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Cao Huy Giu dịch, NXB Khoa học xã hội, in lần thứ hai, H., 1972; tr. 47.

(22) “Chiếu bá cáo thiên hạ về việc bình định An Nam”, đề ngày 1 tháng Ba năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 27b. Nguyên văn: 帝。以 。周 。毀 。謗 。欺聖 。無 (... tự dĩ vi đạo ưu ư Tam vương, đức cao ư Ngũ đế, dĩ Vũ Thang Văn Vũ bất túc pháp, Chu Công Khổng Tử vi bất túc sư, hủy Mạnh Tử vi đạo Nho, báng Chu Trình Trương Chu vi phiếu thiết. Khi thánh khi thiên, vô luân vô lý).

(23) Sắc chỉ bí mật, ban bố 10 điều cho quân lính tuân theo, xếp thứ tự ngay sau đạo sắc đề ngày 4 tháng Bảy nhuận năm Vĩnh Lạc thứ 4 (21.8.1406). Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 16a - 17b. Nguyên văn: 。除 。外 習。如 。片 。其 安南 (Binh nhập, trừ Thích, Đạo kinh bản kinh văn bất hủy. Ngoại nhất thiết thư bản văn tự dĩ chí lý tục đồng mông sở tập, như “Thượng đại nhân Khưu ất dĩ” chi loại, phiến chỉ chích tự tất giai hủy chi. Kỳ cảnh nội Trung Quốc sở lập bi khắc tắc tồn chi. Đãn thị An Nam sở lập giả tất hoại chi, nhất tự bất tồn).

(24) Điều khoản bổ sung vào sắc chỉ đề ngày 21 tháng Năm năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Q. 2, tờ 33a. Nguyên văn: 童蒙 。片 隻字及 。見 便 壞勿存 。今 聞軍 。必 其如 。必 。爾 。號 便焚 (Lũ thường dụ nhĩ, phàm An Nam sở hữu nhất thiết thư bản văn tự, dĩ chí lý tục đồng mông sở tập, như “Thượng đại nhân Khưu ất dĩ” chi loại, phiến chỉ chích tự cập bỉ xứ tự lập bi khắc, kiến giả tức tiện hủy hoại vật tồn.

 Kim văn quân trung sở đắc văn tự bất tức lệnh quân nhân phần hủy, tất kiểm thị nhiên hậu phần chi. Thả quân nhân đa bất thức tự, nhược nhất nhất lệnh kỳ như thử, tất trí truyền đệ di thất giả đa. Nhĩ kim nghi nhất như tiền sắc, hiệu lệnh quân trung đãn ngộ bỉ xứ sở hữu nhất ứng văn tự tức tiện phần hủy, vô đắc tồn lưu).

(25) Chỉ người Việt.

(26) Sắc chỉ đề ngày19 tháng Năm năm Vĩnh Lạc thứ 5 (25.6.1407), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 32a. Nguyên văn: [ ] 去手 敕及 帶去 子。及 。盡 便 (Kim An Nam dĩ bình [...] Trừ chế dụ ngoại ứng phát khứ thủ sắc, cập ký sự tiểu thiếp Thành Quốc công lĩnh đới khứ tiểu sách tử, cập điều hoạch sự kiện, tận số kiểm đối, mật phong kiểu lai. Bất hứa tồn lưu nhất tự, lậu lạc tại bỉ bất tiện).

Thông Tin Đức Quốc - http://www.ttdq.de/node/1762

__._,_.___

Posted by: ly vanxuan

Friday, 5 September 2014

Du lịch Hoàng Sa: Trung Quốc thực hiện ý đồ bành trướng ở Biển Đông


BIỂN ĐÔNG -VIỆT NAM - 
Bài đăng : Thứ năm 04 Tháng Chín 2014 - Sửa đổi lần cuối Thứ năm 04 Tháng Chín 2014

Du lịch Hoàng Sa: Trung Quốc thực hiện ý đồ bành trướng ở Biển Đông

Tàu du lịch Trung Quốc rời cảng Tam Á (Sanya), để đi thăm các đảo nhỏ ở Hoàng Sa - sanyatourism.com

Đức Tâm

Tàu đánh cá, tàu ngư chính, kiểm ngư, rồi giàn khoan và giờ đây là du lịch bằng thuyền tới quần đảo Hoàng Sa : Trung Quốc dùng mọi phương tiện để thực hiện tham vọng bành trướng lãnh thổ ở Biển Đông. Tân Hoa Xã, ngày 02/09/2014, cho biết, tàu du lịch Trung Quốc "Coconut Princess" đã rời cảng Tam Á (Sanya), cực nam đảo Hải Nam, để tới quần đảo Tây Sa, (tức Hoàng Sa).

Chuyến du lịch kéo dài bốn ngày, ba đêm và đi qua hơn bốn chục đảo nhỏ, bãi đá. Trước đó, Bắc Kinh đưa tin là do chương trình thành công, nhà tổ chức du lịch bằng thuyền tới Hoàng Sa đã cải tiến các hoạt động để rút ngắn thời gian đi biển. Trung Quốc bắt đầu đưa du khách tới Hoàng Sa từ tháng 04/2013 và Công ty hàng hải Eo biển Hải Nam đã chuyên chở hơn 3000 du khách từ đảo Hải Nam tới quần đảo Hoàng Sa.
Cho đến nay, công ty này chỉ có mỗi tàu Coconut Princess, phục vụ tuyến Hải Nam- Hoàng Sa, được tổ chức hàng tháng hoặc hai tháng một lần, và mỗi lần chở khoảng 200 du khách. Ban đầu, điểm xuất phát là thành phố Hải Khẩu (Haikou) thủ phủ tỉnh Hải Nam và hành trình tới quần đảo Hoàng Sa mất khoảng 20 tiếng. Từ ngày 02/09, tàu xuất phát từ cảng Tam Á và chỉ mất 12 giờ để tới Hoàng Sa.
Trong chuyến đi, du khách tới tham quan Cồn Quan sát (Trung Quốc gọi là Ngân Tự - Yinyu và tên quốc tế Observation Bank), đảo Toàn Phú (Quanfu), đảo Áp Công (Yagong), tất cả đều nằm trong nhóm đảo Lưỡi Liềm (Vĩnh Nhạc quần đảo – Crescent Group), thuộc quần đảo Hoàng Sa.
Mặc dù truyền thông Trung Quốc nhấn mạnh tới khía cạnh du lịch, nhưng theo giới quan sát, hiển nhiên, hoạt động này của Bắc Kinh mang tính chính trị. Quần đảo Hoàng Sa là nơi tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tháng Giêng năm 1974, Trung Quốc đã đánh chiếm quần đảo này từ tay chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Khi thường xuyên đưa du khách tới Hoàng Sa, Trung Quốc muốn củng cố đòi hỏi chủ quyền, khẳng định là Bắc Kinh quản lý tuyệt đối toàn bộ vùng này. Các tàu du lịch cung cấp thức ăn và chỗ ở cho du khách mà không cần phải xây dựng hạ tầng cơ sở trên những hòn đảo tại đây.
Sự hiện diện của các tàu du lịch tạo cớ cho Trung Quốc điều các tàu tuần tra phi quân sự đến những vùng đang có tranh chấp. Bắc Kinh vốn thường xuyên dùng tàu ngư chính, kiểm ngư, trên danh nghĩa là tàu dân sự, để khẳng định các đòi hỏi chủ quyền ở những vùng biển tranh chấp. Mặt khác, tàu du lịch, không vũ trang, không thể trở thành mục tiêu tấn công của những nước đang có tranh chấp với Trung Quốc.
Năm ngoái, khi Trung Quốc tổ chức tuyến du lịch tới Hoàng Sa, chính quyền Việt Nam đã phản đối mạnh mẽ. Bắc Kinh bỏ ngoài tai. Trung Quốc không thừa nhận đòi hỏi chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và cho rằng hoạt động du lịch trong khu vực không liên quan gì đến nước thứ ba.
Lần này cũng tương tự. Hôm nay, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam nhắc lại điệp khúc : « Việt Nam có chủ quyền không tranh cãi đối với quần đảo Hoàng Sa. Việc Trung Quốc khai thác du lịch ở khu vực này là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam » v.v và v.v.
Một chỉ dấu khác cho thấy ý đồ chính trị của Trung Quốc trong việc tổ chức du lịch Hoàng Sa : Theo báo International Herald Tribune, trong những chuyến du lịch đầu tiên, Bắc Kinh chỉ chấp nhận công dân Hoa lục, người ngoại quốc hoặc người Trung Quốc ở Hồng Kông, Macao cũng bị gạt mà không có giải thích. Ngoài ra, trong số 200 hành khách của chuyến thứ nhất, thì số quan chức chính quyền đông hơn du khách.
Trung Quốc không phải là nước duy nhất nhìn thấy tiềm năng du lịch kết hợp với việc củng cố quyền kiểm soát tại các vùng có tranh chấp. Philippines đã tính tới việc tổ chức du lịch quần đảo Trường Sa. Còn Việt Nam, trong thời gian qua, đã tổ chức một số chuyến cho quan chức và khách mời đi thăm hỏi binh sĩ trên các đảo ở Trường Sa mà Việt Nam quản lý.


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Thursday, 4 September 2014

TQ mở tuyến du lịch mới tới Hoàng Sa


Biển Đông và đàm phán Việt Trung. Tranh Babui.
Biển Đông và đàm phán Việt Trung. Tranh Babui.

TQ mở tuyến du lịch mới tới Hoàng Sa

Cập nhật: 05:09 GMT - thứ tư, 3 tháng 9, 2014
Vùng biển gần Hoàng Sa là nơi các lực lượng chức năng Trung Quốc hoạt động mạnh
Trung Quốc vừa mở tuyến du lịch mới ngắn hơn tuyến cũ từ Tam Á, đảo Hải Nam, ra Hoàng Sa, động thái có thể gây phản ứng từ Việt Nam.
Hãng tin Tân Hoa Xã nói tàu du lịch Coconut Princess vừa khởi hành từ Tam Á trên đảo Hải Nam vào hôm thứ Ba 2/9 hướng về Hoàng Sa, mà Trung Quốc gọi là Tây Sa.

Các bài liên quan


Chủ đề liên quan

Trong tour du lịch bốn ngày trên tàu, khách sẽ thăm ba đảo trong quần đảo Hoàng Sa, "đánh bóng chuyền trên cát, lặn, câu cá và chụp ảnh cưới".
Việt Nam là quốc gia duy nhất tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc tại Hoàng Sa.
Tuy nhiên Bắc Kinh, vốn đã chiếm hoàn toàn quần đảo này từ năm 1974, luôn bác bỏ tuyên bố của Hà Nội, đồng thời từ chối mọi kêu gọi đàm phán với lý do đây là "lãnh thổ lịch sử của Trung Quốc, không có tranh chấp".
Chủ trương mở tour du lịch Hoàng Sa của Trung Quốc được thông qua từ năm 2011. Năm 2012, đã có một số chuyến thử nghiệm cũng trên tàu Coconut Princess.
Việt Nam đã nhiều lần phản đối tour du lịch này, nhưng không có tác dụng.
Một chi tiết đáng chú ý là chuyến du lịch mới này khởi hành đúng ngày Quốc khánh của Việt Nam và chỉ một tuần sau chuyến đi Trung Quốc của Đặc phái viên của Tổng Bí thư Đảng CSVN, ông Lê Hồng Anh.
Trong chuyến đi, hai bên được nói đã đạt “ba nội dung quan trọng nhằm chỉ đạo phát triển quan hệ hai Đảng, hai nước trong thời gian tới”.
Trong ba nội dung đó, có nội dung nói về tranh chấp trên biển, khuyến cáo hai bên "không áp dụng hành động làm phức tạp và mở rộng tranh chấp, giữ gìn đại cục của quan hệ Trung-Việt cũng như hoà bình và ổn định của Nam Hải (Biển Đông)".

Du lịch Hoàng Sa

Quần đảo Hoàng Sa do Trung Quốc hoàn toàn kiểm soát từ 1974
Nói chung các chuyến du lịch Hoàng Sa được Trung Quốc tổ chức có giá vé khoảng từ 7.000 tới 9.000 Nhân dân tệ (24 triệu tới 31 triệu đồng Việt Nam) cho bốn ngày.
Năm 2012 Trung Quốc đã chính thức thành lập thành phố Tam Sa để quản lý Hoàng Sa, với cơ sở vật chất đặt trên đảo lớn nhất là Phú Lâm đang ngày càng được phát triển.
Tháng trước, Trung Quốc cho hay đang dự tính xây thêm hải đăng trên 5 đảo ở Biển Đông, trong đó hai đảo thuộc Hoàng Sa.
Thông tin quảng bá du lịch Hoàng Sa được các cơ quan hữu quan của Trung Quốc quảng bá rộng rãi. Ngành du lịch Trung Quốc thậm chí đã nghĩ ra khẩu hiệu thu hút khách tới Phú Lâm: "Tây Sa (Hoàng Sa), một Tam Á đang lên".
Tam Á (Sanya) là thủ phủ của đảo Hải Nam, đã được Trung Quốc phát triển thành trung tâm du lịch lớn.
Bắc Kinh cũng cho việc tổ chức tour du lịch tới Hoàng Sa là động tác khẳng định chủ quyền.
Hồi tháng Năm, Trung Quốc đưa giàn khoan nước sâu 981 vào vùng biển gần Hoàng Sa, gây phản ứng dữ dội ở Việt Nam.
Giàn khoan này đã rút đi hồi giữa tháng Bảy, trước thời hạn một tháng.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Wednesday, 3 September 2014

Biển Đông : Trung Quốc biến sáu bãi đá ngầm ở Trường Sa thành đảo nhỏ


BIỂN ĐÔNG - TRUNG QUỐC - 
Bài đăng : Thứ ba 02 Tháng Chín 2014 - Sửa đổi lần cuối Thứ ba 02 Tháng Chín 2014

Biển Đông : Trung Quốc biến sáu bãi đá ngầm ở Trường Sa thành đảo nhỏ

Ảnh vệ tinh chụp cụm Sinh Tồn thuộc quần đảo Trường Sa, Biển Đông.
wikipedia

Thụy My

Theo tờ Want China Times của Đài Loan hôm nay 02/09/2014, Bắc Kinh đã dấn thêm một bước mới trong chiến dịch tích cực xâm lấn để tìm cách khẳng định chủ quyền tại Biển Đông. Ảnh chụp vệ tinh cho thấy sáu rạn san hô ở quần đảo Trường Sa đã được biến thành các đảo nhỏ nhờ việc cải tạo hạ tầng trong sáu tháng qua.

Từ tháng Hai, Trung Quốc đã tất bật gởi những đội xây dựng đến nhiều bãi đá ngầm ở quần đảo Trường Sa, hiện đang tranh chấp với Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan. Theo các nguồn tin, sáu rạn san hô đã bị biến thành đảo nhỏ.
Đó là hai rạn thuộc cụm Sinh Tồn là Đá Gạc Ma (Johnson South, bị Trung Quốc chiếm năm 1988 sau trận Hải chiến Trường Sa) và Đá Tư Nghĩa (Hughes), và bốn rạn san hô khác là Đá Ga Ven (Gaven), Đá Chữ Thập (Fiery Cross), Đá Én Đất (Eldad) đều thuộc cụm Nam Yết, Đá Châu Viên (Cuarteron) thuộc cụm Trường Sa, tất cả đều bị Trung Quốc chiếm năm trong khoảng 1988 -1989.
Các ảnh chụp Đá Gạc Ma từ vệ tinh vào tháng Bảy cho thấy Trung Quốc đã xây một cầu tàu, trồng những hàng dừa cùng với các cơ sở hạ tầng mới như đường sá, nhà cửa, khiến bãi đá ngầm chủ yếu là cát và đá trở thành một hòn đảo trắng có dạng trái táo. Ảnh của Google Earth vào cuối tháng Sáu cũng đã phát hiện một lượng thiết bị xây dựng quan trọng trên đảo.
Theo các nhà phân tích, các hoạt động cải tạo hiện trạng nhanh chóng của Bắc Kinh tại Biển Đông, nhờ nguồn lực dồi dào và năng lực xây dựng, khiến Trung Quốc có thể lấn át tất cả các nước khác. Các cơ sở hạ tầng kiên cố ngày càng nhiều trên các bãi đá ngầm mang lại ưu thế cho Bắc Kinh trong yêu sách chủ quyền.
Một viên chức an ninh cao cấp của Philippines than thở: « Khi các lãnh đạo của chúng tôi bận rộn tranh cãi, thì ngoài Biển Đông chúng tôi đang bị mất dần lãnh thổ do Trung Quốc gặm nhấm từ từ ».
Tổng thống Benigno Aquino tuần rồi khẳng định Bắc Kinh tiếp tục các hoạt động xâm lấn, và lại đưa ra lời kêu gọi Trung Quốc nên làm dịu bớt căng thẳng tại Biển Đông. Ông cho biết Philippines tiếp tục xúc tiến việc kiện lên Tòa án quốc tế về Luật Biển, và đòi hỏi xây dựng Bộ quy tắc ứng xử để điều chỉnh các hành vi trong khu vực.


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Tuesday, 2 September 2014

Ấn Độ - Nhật Bản : Thượng đỉnh để thắt chặt quan hệ song phương


CHÂU Á - 
Bài đăng : Thứ hai 01 Tháng Chín 2014 - Sửa đổi lần cuối Thứ hai 01 Tháng Chín 2014

Ấn Độ - Nhật Bản : Thượng đỉnh để thắt chặt quan hệ song phương

Thượng đỉnh Nhật-Ấn tại Tokyo, ngày 01/09/2014.
Reuters

Đức Tâm

Sau khi cuộc gặp gỡ nồng nhiệt và thân tình ở Kyoto, ngày 01/09/2014, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và đồng nhiệm Nhật Bản Shinzo Abe họp Thượng đỉnh ở Tokyo. Trọng tâm nhằm thúc đẩy trao đổi kinh tế và thắt chặt liên minh để đối phó với ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc trong vùng Châu Á.

Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đến cố đô Kyoto từ hôm 30/08/2014, trong khuôn khổ chuyến công đầu tiên ngoài vùng Đông Nam Á, kể từ khi ông nhậm chức cách nay ba tháng. Lãnh đạo Ấn đã được Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đón tiếp rất trọng thị.
Hôm nay, 01/09/2014, các cuộc thảo luận chính thức bắt đầu giữa lãnh đạo hai nền kinh tế thứ hai và thứ ba ở Châu Á.

Trong lĩnh vực đối ngoại, Ấn Độ và Nhật Bản đều phải đối mặt với mối đe dọa chung là Trung Quốc vì cả hai nước đều có tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh.

Theo báo chí Nhật Bản, New Delhi và Tokyo dự kiến thành lập một cơ chế đối thoại 2+2, ở cấp Ngoại trưởng và Bộ trưởng Quốc phòng, theo như mô hình mà Nhật đã thiết lập với Hoa Kỳ, Úc, Nga và Pháp. Giới quan sát cho rằng, đang lo ngại sự trỗi dậy của Trung Quốc, Hoa Kỳ sẽ ủng hộ sáng kiến của Nhật Bản và Ấn Độ.

Dường như để nhắc lại tham vọng lãnh thổ của mình, hôm nay, Trung Quốc lại cho các tàu tuần duyên xâm nhập vào hải phận quần đảo Senkkaku/Điếu Ngư, nơi đang có tranh chấp chủ quyền giữa Bắc Kinh và Tokyo.

Ngay khi tới Tokyo, Thủ tướng Modi đã tuyên bố : Ấn Độ và Nhật Bản phải chọn con đường phát triển hòa bình, chứ không theo đuổi chủ nghĩa bành trường « theo kiểu thế kỷ 18 », « lấy đất và đưa thuyền chiếm biển của nước khác », hàm ý nói đến các tham vọng của Trung Quốc và « nếu Châu Á trở thành khu vực đi đầu trong thế kỷ 21, thì Nhật Bản và Ấn Độ cần phải chỉ rõ đường đi ».

Trong lĩnh vực kinh tế, một phái đoàn hùng hậu các doanh nhân Ấn Độ tháp tùng Thủ tướng Modi. Nhật Bản đứng hàng thứ tư trong số các nước đầu tư tại Ấn Độ.
Báo kinh tế Nikkei cho biết, nhân chuyến công du này, có nhiều khả năng Nhật Bản sẽ cấp 50 tỷ yen (khoảng 364 triệu euro) tín dụng lãi suất thấp  cho Ấn Độ, để thực hiện các dự án đường sắt, đường bộ và các khu công nghiệp.

Nhiều hợp đồng kinh tế sẽ được ký kết bởi vì Nhật Bản muốn tăng gấp đôi mức đầu tư trực tiếp, cũng như số doanh nghiệp làm ăn tại Ấn Độ, trong vòng 5 năm tới.
Công ty Nidec, chuyên sản xuất các động cơ nhỏ cho các loại máy điện tử, có kế hoạch đầu tư hơn 100 tỷ yen (khoảng 729 triệu euro) vào Ấn Độ, trong giai đoạn 2021-2022.
Thủ tướng Shinzo Abe cũng muốn bán công nghệ xe lửa cao tốc « Shinkansen », vì hiện nay, Ấn Độ có một dự án trong lĩnh vực này.

Hai nước cũng thảo luận về hợp tác hạt nhân dân sự. Các cuộc đàm phán trước đây đã bị đình hoãn sau thảm họa Fukushima.

Trong chuyến công du Nhật Bản của Thủ tướng Ấn Độ, hai nước sẽ chính thức ra thông báo về hợp tác trong lĩnh vực đất hiếm, theo đó, Nhật Bản gia tăng nhập khẩu nguyên liệu này từ Ấn Độ, để giảm bớt phụ thuộc vào Trung Quốc.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Nguy cơ sự phát triển của hải quân Trung Quốc gây tổn hại cho thương mại thế giới


PHÂN TÍCH - 
Bài đăng : Thứ hai 01 Tháng Chín 2014 - Sửa đổi lần cuối Thứ hai 01 Tháng Chín 2014

Nguy cơ sự phát triển của hải quân Trung Quốc gây tổn hại cho thương mại thế giới

Hải quân Trung Quốc đe dọa thương mại thế giới ?
AP

Đức Tâm

Các căng thẳng ở Biển Đông trong thời gian qua, với các vụ đối đầu giữa tàu Trung Quốc và một số nước láng giềng nhỏ bé, trong các tranh chấp lãnh thổ, tuy không gây lo ngại nhiều cho giới đầu tư phương Tây, nhưng một cuộc xung đột trong khu vực rất có thể ảnh hưởng đến thương mại thế giới.

Theo tổ chức Hội nghị Thương mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNCTAD), trong năm 2010, khoảng 8,4 tỷ tấn hàng hóa được vận chuyển qua khu vực Biển Đông, tức là gần bằng một nửa tổng khối lượng chuyên chở hàng hóa toàn thế giới.
Bộ Thương mại Mỹ cho biết, trong năm 2013, Hoa Kỳ xuất khẩu 79 tỷ đô la hàng hóa sang các nước trong vùng Biển Đông và nhập khẩu 127 tỷ đô la từ những quốc gia này. Đô đốc hải quân Mỹ Robert Willard thẩm định, nếu tính cả hàng hóa chỉ đi qua Biển Đông, tổng giá trị hàng hóa được vận chuyển hàng năm qua vùng này lên tới 5,3 nghìn tỷ đô la, trong số đó có 1,2 nghìn tỷ của Hoa Kỳ.
Chính vì thế, theo giáo sư Peter Dutton, chuyên gia nghiên cứu chiến lược, phụ trách Viện nghiên cứu hàng hải Trung Quốc, thuộc Học viện Hải Chiến Mỹ, được đài truyền hình CNBC trích dẫn, các căng thẳng tại Biển Đông đặt ra vấn đề về rủi ro an ninh kinh tế đối với toàn cầu. Một cuộc xung đột giữa Trung Quốc với một trong những nước láng giềng nhỏ bé cũng có thể gây rối loạn đối với các tuyến vận tải hàng hải, qua đó, ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới. Tuy không cho rằng xung đột có thể xảy ra, nhưng vị giáo sư này thẩm định : « Một sự gián đoạn giao thông hàng hải trong vòng 3 tuần cũng có thể gây ra tác động tác kể ». Cho dù tàu bè các nước vẫn tiếp tục qua lại Biển Đông khi xảy ra xung đột, chi phí bảo hiểm « sẽ rất cao ».
Lo ngại về an ninh kinh tế còn xuất phát từ một yếu tố khác : Đó là chính sách kiểm soát Biển Đông của Trung Quốc. Giáo sư Dutton nhận xét, trong những năm qua, Bắc Kinh đã tỏ rõ ý định muốn kiểm soát tất cả các vùng biển, tuyến hàng hải mà họ cho rằng thuộc vùng ảnh hưởng của hải quân Trung Quốc. Xu hướng này ngược lại hoàn toàn với chuẩn mực chung toàn cầu về tự do lưu thông ở đại dương. Ông nói : « Mối lo ngại của chúng tôi là Trung Quốc định ra các quyền rộng rãi để kiểm soát các vùng theo luật lệ của họ và giành quyền cấm các tàu bè quân sự nước ngoài qua lại ». Nếu điều này xảy ra, thì các nước khác trong vùng cũng sẽ làm tương tự. Mặt khác, Trung Quốc không có đủ khả năng để điều phối các hoạt động hàng hải trong một vùng biển rộng lớn như vậy.
Một số nhà phân tích không nghĩ rằng các tuyến giao thông hàng hải ở Biển Đông sẽ trở thành khu vực tranh chấp. Ông Gary Li, chuyên gia về hàng hải, thuộc IHS Maritime nhận định, khó có thể xảy ra rối loạn trên các tuyến hàng hải, vì « tất cả mọi người đều cần các tuyến đường này, nhất là Trung Quốc ».
Chính vì thế, trước nguy cơ đe dọa tự do lưu thông hàng hải, mỗi nước đều tính toán trong việc có nên phản ứng hay không và phản ứng ra sao, để bảo vệ quyền lợi của mình. Các tính toán này đã phần nào bị chi phối bởi một thực tế là trong những vụ đối đầu vừa qua với Trung Quốc, Hoa Kỳ đã không tỏ ra là một đồng minh luôn luôn đáng tin cậy.
Những tính toán này được thể hiện rõ trong vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan dầu tại nơi mà Việt Nam khẳng định thuộc vùng đặc quyền kinh tế của mình, hồi đầu tháng Năm vừa qua. Cuối cùng thì Việt Nam và Trung Quốc đều tìm cách làm dịu tình hình : Bắc Kinh tự rút giàn khoan và Việt Nam cử đặc phái viên sang thương thảo.
Là một trong những bên có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông, Malaysia luôn tỏ ra kín tiếng và theo giới chuyên gia, dường như Kuala Lumpur quyết định rằng quan hệ kinh tế của họ với Trung Quốc là quan trọng hơn cả.
Đáng ngạc nhiên là phản ứng của Philippines, kiện Trung Quốc ra trước tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc cho dù Bắc Kinh đe dọa là bất kỳ nước nào kiện họ thì sẽ phải trả giá.
Trước phản ứng yếu ớt của các nước Đông Nam Á, Trung Quốc sẽ từng bước củng cố các đòi hỏi chủ quyền biển đảo và Bắc Kinh không làm việc này một cách nhanh chóng, ngay một lúc. Theo nhận định của ông Zachary Abuza, chuyên gia về an ninh Đông Nam Á, « Trung Quốc làm theo kiểu cắt lát xúc xích, thôn tính từng hòn đảo, từng bãi đá. Đây chính là điều đang xảy ra và không ai ngăn cản được ».

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Monday, 1 September 2014

Mỹ-Trung Hoa Sẽ Đụng Nhau Ở Biển Đông


Nhật Ký Biển Đông:
Mỹ-Trung Hoa Sẽ Đụng Nhau Ở Biển Đông

Nhật Ký Biển Đông hai tuần cuối của Tháng Tám ghi nhận những chuyển biến quan trọng như sau:

-Voice of Russia ngày 15/8/2014: “Liên hiệp tập đoàn Almaz-Antey đang tiến hành đàm phán về việc khai trương tại Việt Nam, Algeria, Ấn Độ và Trung Quốc những trung tâm dịch vụ sửa chữa và bảo trì hệ thống phòng không (hỏa tiễn) mà Nga cung cấp cho các nước này.

Đây là phương thức hiệu quả để đảm bảo hoạt động của các thiết bị kỹ thuật, cho phép nhanh chóng giải quyết vấn đề cải tiến hiện đại hóa và sửa chữa hệ thống phòng không mà không cần phải di chuyển từ nước này sang nước khác.”

-VOA tiếng Việt ngày 18/8/2014: Chiến thuật dùng tàu cá để bành trướng và bảo vệ các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh ở Biển Đông dường như không thể ngăn cản được, theo nhận xét của giới chuyên gia phân tích. 

Cục trưởng Cụ Kiểm Ngư Việt Nam, Nguyễn Ngọc Oai nói rằng “Tàu cá của Trung Quốc không gọi là tàu cá được. Thật ra đó là những tàu thiết kế để thực hiện nhiệm vụ khác. Những tàu đó cũng là một trong những mũi tấn công chính trong các vụ gây hấn với Việt Nam.” 

-TuoiTreOnline ngày 18/8/2014: “Theo AFP, Bộ Ngoại giao Nhật cho biết tính đến tháng 10-2013 chỉ còn 135.078 người Nhật sinh sống và làm việc ở Trung Quốc, giảm 10,19% so với một năm trước đó. Nhà kinh tế Shinichi Seki thuộc Viện Nghiên cứu Nhật (JRI) nhận định sự suy giảm xuất phát từ việc quan hệ ngoại giao xấu đi khiến người dân hai nước ác cảm với nhau.”

-RFI ngày 20/8/2014: “Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm 20/08/2014 đã bác bỏ lời phản đối của Manila vào hôm thứ Hai, 18/08, về vụ hai tàu khảo sát Trung Quốc hoạt động trong khu vực dầu khí ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và khẳng định Reed Bank (Bãi Cỏ Rong) thuộc lãnh thổ Trung Quốc, và các hoạt động khảo sát do tàu khảo sát Trung Quốc thực hiện đều hợp lý, hợp pháp và không thể bị chỉ trích.

-VOA tiếng Việt ngày 21/8/2014: “Công ty Idemitsu Kosan của Nhật Bản hôm nay loan báo tìm thấy dầu và khí đốt tại giếng thăm dò thứ tư ở các lô số 05-1b và 05-1c ngoài khơi bờ biển miền nam Việt Nam. Theo Reuters, công ty này cho biết việc phát hiện đã được xác nhận dựa trên những vụ khoan thử nghiệm thực hiện hồi tháng Năm và tháng Tám, ngoài các cuộc phát hiện ra dầu khí tại các giếng khác đã được khoan trong hai lô vừa kể. “

- AP (Washington D.C.) ngày 22/8/2014: Bộ tham mưu của TT. Obama lên án hành vi nguy hiểm (suýt gây chết người) của một máy bay chiến đấu Trung Quốc khi lên nghênh cản máy bay tình báo và do thám P-8 Poseidon của Mỹ ngoài bờ biển Trung Quốc cách Đảo Hải Nam 137  dặm về phía đông và trên không phận quốc tế. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ coi đây là hành vi thật sự khiêu khích và là bước thụt lùi trong nỗ lực cải thiện bang giao giữa hai nước.

-VOA tiếng Việt ngày 23/8/2014: “Philippines cho biết họ giữ nguyên lập trường đa phương trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở Biển Đông giữa lúc có tin tàu Trung Quốc xuất hiện ở Bãi Cỏ Rong. Philippines xem Bãi Cỏ Rong thuộc vùng đặc quyền kinh tế của mình vì cách đảo Palawan 80 hải lý.

 Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Trung Quốc khẳng định rằng Bãi Cỏ Rong là lãnh thổ của Trung Quốc. “

-BBC tiếng Việt ngày 25/8/2014: “Bộ Ngoại giao Việt Nam ra thông cáo nói ông Lê Hồng Anh -Thường Trực Ban Bí Thư Đàng CSVN sẽ thăm Trung Quốc trong hai ngày 26/8-27/8 với danh nghĩa là Đặc phái viên của Tổng Bí thư.

Rõ ràng mục tiêu đầu tiên trong chuyến đi của ông Lê Hồng Anh, người cũng được cho là nhân vật số 5 trong Bộ Chính trị, là để xoa dịu tình hình vừa gặp khá nhiều căng thẳng giữa hai bên. Được biết chuyến thăm lần này được thực hiện theo lời mời của Trung ương Đảng CS Trung Quốc.”

-RFI tiếng Việt ngày 25/8/2014:” Ô. Nguyễn Tấn Dũng- Thủ tướng Việt Nam sau cuộc gặp gỡ với Ô. José Manuel Barroso- Chủ tịch Ủy ban châu Âu đã cho biết, Việt Nam và Liên hiệp châu Âu hy vọng sẽ thỏa thuận xong hiệp định tự do mậu dịch trong tháng 10 tới. Việt Nam xuất khẩu sang châu Âu điện thoại di động và các loại dụng cụ điện tử khác, giày dép, sản phẩm dệt may và nông sản, trong đó có cà phê, gạo. 

Liên hiệp châu Âu cũng là một trong những nhà đầu tư nước ngoài quan trọng tại Việt Nam, với 656 tỉ đô la đầu tư trực tiếp trong năm 2013. 

Liên hiệp châu Âu là thị trường xuất khẩu hàng đầu, và là đối tác thương mại đứng hàng thứ nhì của Việt Nam, chỉ sau Trung Quốc. Theo báo chí trong nước, sau khi ký được hiệp định thương mại song phương, có ít nhất 90% số mặt hàng của Việt Nam xuất sang châu Âu sẽ được miễn thuế.”

-Báo Tiền Phong ngày 25/8/2014: “Bà Sushma Swaraj, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ cho biết, Ấn Độ đánh giá cao về vị thế an ninh- quốc phòng của Việt Nam và mong muốn Việt Nam trở thành đối tác của Ấn Độ trong lĩnh vực này trong cuộc hội kiến với Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tại Hà Nội ngày 25/8/2014.” 

 Còn theo RFI: “Theo báo chí Ấn Độ ngày 21/08/2014, trước khi Ngoại trưởng Ấn đến Hà Nội, Việt Nam đã quyết định triển hạn hợp đồng thăm dò dầu khí của tập đoàn Ấn Độ OVL tại Biển Đông, một động thái được đánh giá là nhằm khẳng định vai trò của Ấn Độ tại Biển Đông, bất chấp sự phản đối của Trung Quốc.” Và vào ngày 27/8/2014 RFI nhận định tiếp, “Tầm quan trọng chiến lược của Việt Nam đối với Ấn Độ đã được New Delhi thể hiện một cách cụ thể khi bà Ngoại trưởng Ấn Độ đã triệu tập 15 trưởng phái bộ Ngoại giao của Ấn Độ tại vùng Đông Á và Đông Nam Á về họp tại Hà Nội, với mục tiêu là đề xuất sáng kiến phát huy chính sách đối ngoại của New Delhi trong toàn khu vực.”

-VOA tiếng Việt ngày 26/8/2014: “Báo Time cho hay các giới chức hải quân Mỹ xác nhận rằng nhóm tác chiến tàu sân bay USS George Washington đã khởi sự hoạt động tại vùng Biển Đông Trung Hoa và nhóm tác chiến tàu sân bay USS John C. Stennis của Mỹ đang hiện diện trong khu vực Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông).

-Reuters (Bejing) ngày 28/8/2014:” Trung Quốc yêu cầu Mỹ giảm bớt hay ngưng hẳn các cuộc do thám bằng máy bay nếu muốn cải thiện bang giao giữa hai nước sau sự kiện nguy hiểm xảy ra ngày 22/8/2914 trên không phận quốc tế cách Đảo Hải Nam 137 hải lý.” Hành động bay chặn đầu nguy hiểm của Trung Quốc không những không giảm mà còn gia tăng và bay sát hơn  không ngoài mục đích che chắn cho hạm đội tàu ngầm trang bị hỏa tiễn đạn đạo đóng tại Đảo Hải Nam của Trung Quốc  khỏi bị Hoa Kỳ do thám. Đó là lời bình luận của Chuẩn Đô Đốc Trương Triệu Trung  (Zhang Zhaozhong) trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo.

-BBC tiếng Việt ngày 28/8/2014: Ngày 26/8/2014 tại thành phố Đà Nẵng, đã khai mạc Diễn đàn ASEAN về Biển lần thứ 5 (AMF-5) và Diễn Đàn ASEAN về Biển Mở Rộng lần thứ 3 (EAMF-3) do Việt Nam tổ chức.

-VOA tiếng Việt ngày 29/8/2014:” Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đến Nhật Bản với một lịch trình làm việc phong phú. Theo chuyên gia chiến lược Bharat Karnad tại Trung tâm Nghiên cứu Chính sách ở New Delhi những lo ngại về một nước Trung Quốc hung hăng đang đẩy hai quốc gia này gần hơn đến một đối tác an ninh.”

-RFI tiếng Việt ngày 30/8/2014: “Theo báo chí Nhật Bản và Ấn Độ vào hôm nay, 30/08/2014, chính quyền Manila vừa công bố ảnh chụp từ trên không (không ảnh) cho thấy Bắc Kinh đang gấp rút xây dựng cơ sở có thể dùng vào mục đích quân sự trên một số rạn san hô ở vùng quần đảo Trường Sa tại Biển Đông. 

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Philippines không ngần ngại tố cáo thái độ nói một đằng, làm một nẻo của Trung Quốc.”

-Voice of Russia ngày 30/8/2014: “Theo Itar-Tass, ông Putin tuyên bố Nga không hề có ý định tổ chức hoặc dính dáng vào các cuộc xung đột quy mô lớn. Nga đang tăng cường sức mạnh hạt nhân và vũ trang.”  Ô. Putin cảnh báo, “Tôi muốn nhắc nhở rằng Nga là một trong những quốc gia hạt nhân hùng mạnh nhất thế giới.

 Nước Nga luôn cần sẵn sàng chống lại bất kỳ hành vi xâm lược nào. Kẻ thù của nước Nga cần nhớ rằng không nên gây xung đột vũ trang chống lại Nga”. Lời cảnh báo này chắc chắn nhắm vào Mỹ và NATO giữa lúc Mỹ đang điều thêm máy bay ném bom chiến lược tàng hình B-2 có trang bị vũ khí nguyên tử tới Guam để chuẩn bị đối phó với Trung Quốc. 

Nếu Hoa Kỳ dùng vũ khí nguyên tử tấn công Trung Quốc thì phải phải tiêu diệt luôn Nga vì không thể để Nga sống sót. Ngược lại nếu Trung Quốc dùng vũ khí nguyên tử  để đánh Mỹ thì nhân cơ hội đó Nga cũng sẽ tiêu diệt luôn Mỹ để tránh hậu hoạn. Như vậy bất kỳ một cuộc đối đầu hạt nhân nào giữa các siêu cường cũng sẽ hủy diệt toàn cầu.

Nhận Định:
Trong cơn lốc xoáy của cuộc đối đầu Mỹ-Trung Quốc tại Biển Đông đang càng ngày càng gia tăng, nhìn vào những chuyển động mới đây của Hoa Lục, người ta tiên đoán mặt trận chính sẽ chuyển sang Phi Luật Tân bởi các chiến lược gia Trung Quốc có thể đã thấy Việt Nam không phải là mối đe dọa về an ninh, trước mắt cũng như lâu dài cho Trung Quốc. Sự hiện diện quân sự với khả năng tấn công toàn cầu của Mỹ tại Phi Luật Tân, vừa có tác dụng ngăn chặn hành động của Hoa Lục tại Biển Đông vừa là mối đe dọa về an ninh trước mắt cũng như lâu dài cho Trung Quốc. 

Chuyển mặt trận qua Phi Luật Tân, liệu Trung Quốc có chịu hòa dịu với Việt Nam không? Mà hòa dịu như thế nào đây? Trong khi vẫn duy trì “Đường Lưỡi Bò” và không chịu ký vào Bộ Quy Tắc Ứng Xử (COC) thì mọi hoạt động ngoại giao, từ chuyện Ô. Dương Khiết Trì thăm Việt Nam ngày 18/6/2014 tới chuyện Ô. Lê Hồng Anh tới Trung Quốc ngày 26/8/2014 gặp Ô.Tập Cận Bình có thể chỉ là chiến lược “đánh đánh, đàm đàm” lừa miếng nhau của hai bên. 

Nhưng cũng có thể Hoa Lục phải tạm thời hòa dịu vì thấy Việt Nam đang xích gần lại với Mỹ- một điều vô cùng bất lợi cho Hoa Lục và cũng có thể đây là thủ đoạn nhằm tránh cho Việt Nam tố cáo Trung Quốc trong cuộc họp thượng đỉnh của Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) vào Tháng 11 tới đây mà Trung Quốc là nước chủ nhà.  

Đối với các nước nhỏ, đang phải đối đầu với siêu cường khổng lồ Trung Quốc, dĩ nhiên vũ khí là cần nhưng chưa đủ. Sức mạnh quốc phòng tự chủ - không dựa vào viện trợ của ngoại bang - phải kết hợp với chiến lược ngoại giao thì mới có thể giữ yên đất nước. Ngoại giao mà không có quốc phòng là ngoại giao trên thế yếu. 

 Quốc phòng mà không có ngoại giao là quốc phòng mù và có thể đưa đất nước tới tan nát. Ngoại giao giỏi giống như chiếc đòn bẩy nhẹ nhàng nhưng có thể xô được một tảng đá khổng lồ. Một đất nước yên ổn và cường thịnh là đất nước có một nền quốc phòng tự chủ vừa đủ nhưng lại có chiến lược ngoại giao xuất chúng. 

Mà muốn có ngoại giao xuất chúng thi phải “quán thông kim cổ” và hiểu được sức mạnh cũng như quyền lợi của các siêu cường đang tác động tới sự an nguy của thế giới. 

Tóm lại: Ngoại giao giỏi là làm bạn với mọi người, lấy sức của người thành sức của mình và không bao giờ tạo ra kẻ thù vô ích. Ngoại giao ngu đần là tự biến đất nước mình thành “tiền đồn” cho bất cứ siêu cường nào.

Thế ngoại giao độc lập tự chủ vô cùng khó khăn. Nền chính trị  Hoa Kỳ dù có bất ổn thì cũng chẳng ai dám đụng tới “sợi lông chân” Hoa Kỳ vì Hoa Kỳ là một siêu cường. Nhưng là một nước nhỏ, nếu chính trị không ổn định, đất nước “năm cha ba mẹ” chắc chắn các phe nhóm chính trị sẽ đấu đá nhau để tranh giành quyền lợi.

 Mà phương cách hữu hiệu nhất để có được sự đỡ đầu của “boss” là trở thành “tiền đồn” tức đem xương máu của dân tộc ra để bảo vệ lợi ích cốt lõi hay quyền lợi sinh tử của “boss”. Hiện nay các phe cực hữu của Ukraine được Mỹ và NATO hỗ trợ hết mình về các mặt chính trị, ngoại giao, quân sự, tài chính và kinh tế chỉ vì phe cựu hữu muốn biến Ukraine trở thành tiền đồn của NATO và Mỹ để chế ngự Nga. 

Trong khi phe ở miền Đông và Nam lại muốn đất nước Ukraine thân thiện với Nga - từ đó mà phong trào ly khai/liên bang hóa đã biến thành cuộc nội chiến đẫm máu mà quân chính phủ ỏ Kiev đang thất thế. Nếu miền Đông và Nam Ukraine lọt vào tay quân ly khai thì Ukraine đã đánh mất Cremia nay lại đối đầu với nguy cơ chia cắt ra làm hai và bất ổn kéo dài vô tận cho đến khi có một giải pháp quốc tế. 

Đứng về mặt địa lý chính trị (Geopolitics) mà quán xét Ukraine tan nát vì không có một đảng chính trị đủ mạnh đề thuyết phục quần chúng và các phe phái chấp nhận một chính sách ngoại giao có lợi nhất cho Ukraine.

Việc Việt Nam hợp tác chiến lược hay hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Âu Châu, Trung Quốc v.v…là thế ngoại giao đa phương của nước nhỏ.

 Đây còn gọi là thế ngoại giao trung lập mà thuật ngữ chính trị gọi là “đu giây”  hay “lăng ba vi bộ”. Vị thế của Việt Nam khó gấp bội Phi Luật Tân. Phi Luật Tân có thể cắt đứt liên hệ ngoại giao và trực tiếp đối đầu với Trung Quốc nhưng Việt Nam thì không thể làm thế. 

Tình thế của Việt Nam bây giờ cũng giống như Ukraine. Ukraine dù có sự hỗ trợ của NATO và Hoa Kỳ nhưng nếu muốn sống yên để phát triển thì vẫn phải thương thảo và quan hệ “láng giềng tốt” với Nga.

Đứng về mặt địa lý chiến lược thì vị trí của  của Việt Nam quan trọng hơn Ukraine rất nhiều. Bởi vì dù Ukraine có “thân Nga” như thời Tổng Thống Yanukovych (bị lật đổ vào Tháng 3,2014) thì Âu Châu vẫn “vững như bàn thạch”. 
Nhưng nếu Việt Nam suy yếu và ”thỏa hiệp” hay “làm ngơ” để Trung Quốc lấn chiếm Biển Đông thì toàn bộ Đông Nam Á sẽ nằm trong vòng ảnh hưởng của Trung Quốc. Lúc đó Hoa Kỳ sẽ bị đẩy ra khỏi Á Châu và trật tự thế giới thay đổi. 
Chúng ta hãy suy nghĩ về lời phát biểu của Tướng  Dempsey trong cuộc họp báo ngày 16/8/2014 tại Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn, khi trả lời câu hỏi của nhật báo New York Times do báo Đời Sống và Pháp Luật tường thuật:
-New York Times:  Ông đã đưa ra một nhận định rất thú vị về việc hình dung quan hệ Mỹ-Việt trong 45 năm tới. Việt Nam sẽ là một đối tác như thế nào của Mỹ vào thời điểm đó? Cụ thể là khi nào Mỹ sẽ gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam
-Tướng Dempsey: Tôi không thể không đồng ý về tầm quan trọng và vị thế đặc biệt của Việt Nam đối với khu vực và toàn cầu trong tương lai. Theo tôi, Việt Nam sẽ đóng một vai trò địa chính trị cực kỳ quan trọng trong khu vực và trên thế giới trong những năm tới. Đang ngày càng có một sự đồng thuận trong chính trường Mỹ - từ giới quan chức, phi chính phủ, cho đến chính quyền - về việc Việt Nam đang ngày càng có những tiến bộ mà từ đó có thể dẫn đến việc gỡ bỏ lệnh cấm gỡ bỏ vũ khí sát thương từ Washington.

Theo thời gian, do tình thế xô đẩy, Mỹ đã trực tiếp can dự vào Biển Đông và dĩ nhiên Mỹ rất cần- trước hết là Việt Nam, Phi Luật Tân, sau đó là các nước khác ở Đông Nam Á. 

Mỹ hiện đang thận trọng suy tính những bước đi tiếp mà theo tôi nghĩ, không gì khác hơn là tăng cường dự hiện diện hải quân và không quân tại Biển Đông. Nếu Trung Quốc cũng tăng cường sự hiện diện hải quân tại vùng này thì đụng độ sớm muộn cũng phải xảy ra. 

Trong một cuộc đụng độ giữa hai siêu cường sức mạnh tương đương, nước nào có nhiều đồng minh, nước đó thắng. Rồi đây những lời tuyên bố của Mỹ như “không theo bên nào” hoặc “không có ý định kiềm chế Trung Quốc” sẽ trở nên “vô nghĩa” và cần dẹp bỏ. 

Đó là chuyện rất tự nhiên theo quy luật sinh tồn giữa các cường quốc. RFI tiếng Việt ngày 26/8/2014 đã nhận định về việc Mỹ đưa thêm hàng không mẫu hạm vào Biển Đông như sau, “Dù phát ngôn nhân của Tư lệnh Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương nói rằng các hoạt động này không liên quan tới một sự kiện nào đặc biệt, nhưng các nhà phân tích cho rằng sự tập trung lực lượng hiếm thấy của 3 nhóm tàu sân bay tại khu vực tương đối nhỏ ở Thái Bình Dương có thể được xem là một tín hiệu cảnh báo với các căng thẳng tranh chấp đang gia tăng giữa các nước Châu Á ở Biển Đông.”

Nhìn vào lịch sử cận đại, biết bao nhiêu nước nhỏ đã bị chiếm đóng hay tan nát trong Thế Chiến I & II dù các quốc gia này không hề đứng vào phe nào. 

Chẳng hạn, nếu bị Mỹ phong tỏa tại Biển Đông, Hoa Lục có thể đem dăm ba chục sư đoàn tiến vào Miến Điện để mở một thông lộ từ Vân Nam ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương (Hoa Lục hiện có 2,300.000 quân hiện dịch tức khoảng 230 sư đoàn) .

 Khi đại chiến bùng nổ chuyện gì cũng có thể xảy ra. Lúc đó quốc gia nào cũng phải đối đầu với sống-chết, chứ không thể nói chuyện đúng-sai, nhân đạo hay không nhân đạo. Trong cuộc đối đầu giữa hai siêu cường Hoa-Mỹ sắp tới, các nước nhỏ nằm ngay trong lòng trận địa như Việt Nam và Phi Luật Tân chắc chắn  sẽ gánh chịu những hậu quả nặng nề. Nhưng “hậu quả nặng nề” mà giữ được đất nước là mừng lắm rồi. Không thể có chiến lược tuyệt đối hoàn hảo trong cuộc đụng độ lịch sử này đâu.
Đào Văn Bình
(California ngày 31/8/2014)

__._,_.___

Posted by: Binh Dao

Popular Posts

My Blog List